Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nhiệm vụ theo thẩm quyền, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tham mưu với Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (sau đây gọi là Quy định 21) thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng (sau đây gọi là Quy định 296).
Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng lần này của Ban Chấp hành Trung ương có nhiều điểm mới cả về hình thức thể hiện và nội dung quy định.

Quang cảnh hội nghị giữa Đảng ủy Công an Tỉnh Đắk Lắk với Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương
Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật là nền tảng pháp lý giữ gìn sự trong sạch, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quy định số 21-QĐ/TW ban hành ngày 11 tháng 4 năm 2026 đã hoàn thiện và phát triển hơn so với Quy định 296, thể hiện sự linh hoạt, chủ động trong việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn xây dựng Đảng. Cụ thể:
Mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng một cách chi tiết
Điểm mới nổi bật đầu tiên nằm ở Điều 1, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Quy định 296 đã xác định phạm vi chung, nhưng quy định 21 đã bổ sung chi tiết các trường hợp áp dụng đối với tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ, đã giải thể, thay đổi do chia tách, sáp nhập, cũng như đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu. Cụ thể, quy định 21 khẳng định: "Quy định này áp dụng đối với tổ chức đảng và đảng viên, bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chia tách, sáp nhập về mặt tổ chức; đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu". Việc này đảm bảo không bỏ sót bất kỳ đối tượng nào trong công tác kiểm tra, đặc biệt trong bối cảnh có nhiều thay đổi cấu trúc tổ chức và chuyển động lớn của cán bộ, đảng viên sau khi kết thúc nhiệm kỳ.
Đồng thời, Quy định 21 cũng đã làm rõ phạm vi áp dụng đối với tổ chức đảng, đảng viên ở nước ngoài, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho công tác quản lý đảng viên làm việc tại nước ngoài, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Nâng cao nguyên tắc công bằng, minh bạch trong kỷ luật
Điều 2 của Quy định 21 đã làm rõ hơn các nguyên tắc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật. Điểm nổi bật là việc nhấn mạnh nguyên tắc "mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ". Quy định 296 đã khẳng định nguyên tắc này, nhưng Quy định 21 đã thêm chi tiết về việc kết hợp giữa xử lý kỷ luật và giáo dục, khắc phục khuyết điểm: "Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn". Điều này thể hiện sự cân bằng giữa sự nghiêm minh trong xử lý vi phạm và sự nuôi dưỡng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, tránh việc chỉ trừng phạt mà bỏ qua công tác phòng ngừa.
Cơ cấu tổ chức kiểm tra được chi tiết hóa
Điều 7 của Quy định 21 đã hoàn thiện cơ cấu tổ chức và số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp, từ Trung ương đến cơ sở. Đối với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, quy định 21 chỉ rõ số lượng từ 23 đến 25 ủy viên, trong đó không quá một phần ba là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, cùng với số lượng phó chủ nhiệm do Bộ Chính trị quyết định. Đối với các cấp tỉnh, thành ủy, số lượng ủy viên từ 11 đến 13 người, với 3 đến 4 Phó Chủ nhiệm.
Điểm mới khác là việc phân công ủy viên chuyên trách theo lĩnh vực, giúp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, tránh tình trạng công việc bị phân mảnh. Việc quy định rõ ràng cơ cấu này cũng giúp đảm bảo tính độc lập, chuyên nghiệp của cơ quan kiểm tra, đồng thời kết hợp chặt chẽ với các cấp quản lý cao hơn.

Quang cảnh hội nghị giữa Đảng ủy Công an Tỉnh Đắk Lắk với Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương
Quy trình giải quyết tố cáo, khiếu nại được làm rõ hơn
Trong Chương IV và V, Quy định 21 đã làm rõ quy trình giải quyết tố cáo và khiếu nại, đảm bảo quyền lợi của tổ chức đảng và đảng viên. Đối với tố cáo, Quy định 21 khẳng định thời hạn giải quyết tối đa 60 ngày đối với cấp tỉnh, thành ủy và Đảng ủy Trung ương trở xuống; 90 ngày đối với cấp Trung ương, có thể gia hạn thêm 30 ngày trong trường hợp phức tạp. Đối với khiếu nại, thời hạn nộp đơn là 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định kỷ luật, đảm bảo người khiếu nại có thời gian chuẩn bị hồ sơ và trình đơn khiếu nại.
Đồng thời, Quy định 21 cũng đã làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhận tố cáo, yêu cầu phải phân loại, giải quyết hoặc chuyển đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn quy định, tránh tình trạng trì hoãn, không giải quyết.
Tóm lại, Quy định số 21-QĐ/TW là văn bản pháp lý hoàn chỉnh, chi tiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng. Những điểm mới, nổi bật của quy định này giúp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật, góp phần giữ gìn sự trong sạch, nâng cao sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam./.
Thành Nhơn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn