Khi tổ chức hoặc công dân cần khiếu nại, tố cáo hay kiến nghị, phản ánh một vấn đề, không ít tổ chức, người dân cảm thấy băn khoăn về các thủ tục và quy trình phức tạp. Thấu hiểu điều đó, một loạt các quy định mới quan trọng trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo (Luật số 136/2025/QH15 ngày 10/12/2025) sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Trong đó, Luật Tiếp công dân đã bổ sung hình thức “Tiếp công dân trực tuyến” (Điều 3a) bên cạnh hình thức “Tiếp công dân trực tiếp” truyền thống, đánh dấu một bước tiến lớn trong cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, giúp người dân tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí đi lại. Trong Luật bổ sung và điều chỉnh nhiều nhiệm vụ quan trọng đối với Chủ tịch UBND cấp xã, điều chỉnh tần suất tiếp công dân định kỳ của người đứng đầu chính quyền cấp xã ít nhất 02 ngày trong 01 tháng thay vì ít nhất 01 ngày trong 01 tuần và thực hiện tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp luật định. Việc tiếp công dân của cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu được thực hiện tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu hoặc địa điểm tiếp công dân do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định (khoản 1 Điều 15), thay vì bắt buộc cứng nhắc tại Trụ sở UBND cấp xã như trước đây. Để đảm bảo phù hợp thực tế và tránh trường hợp mạo danh, lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo không rõ chủ thể để khiếu nại, tố cáo sai sự thật, Luật sửa đổi hoàn thiện quy định người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh khi đến nơi tiếp công dân có nghĩa vụ nêu rõ họ tên, địa chỉ, số căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc số định danh hoặc hộ chiếu; trường hợp được người khiếu nại ủy quyền thì phải có giấy ủy quyền (điểm a khoản 2 Điều 7).

Những điểm mới của Luật Tiếp công dân năm 2025
Đối với Luật Khiếu nại, điểm mới nổi bật là Luật đã mở rộng và làm rõ chủ thể thực hiện quyền khiếu nại, đã thay thế thuật ngữ “công dân” bằng “cá nhân” để thống nhất với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025), khẳng định mọi cá nhân đều có quyền khiếu nại khi quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật. Luật cũng đã bổ sung quy định mới về các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại (bổ sung Điều 11a) nhằm xử lý rõ hơn các tình huống phát sinh trong thực hiện mà Luật cũ chưa quy định đầy đủ. Theo đó, việc tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết khiếu nại phải được thực hiện bằng Quyết định của người có thẩm quyền, nêu rõ lý do và căn cứ pháp luật. Quy định này giúp quá trình giải quyết khiếu nại được minh bạch, chặt chữ, tránh kéo dài không cần thiết. Bên cạnh đó, quy định mới của Luật cũng cho phép mgười khiếu nại có thể rút toàn bộ hoặc một phần nội dung khiếu nại ở bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa (khoản 3 Điều 10). Luật Khiếu nại sửa đổi năm 2025 đã bãi bỏ quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp huyện, đồng thời làm rõ hơn thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để đảm bảo phù hợp, thống nhất với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hiện nay.
So với Luật cũ, Luật Khiếu nại sửa đổi năm 2025 đã bổ sung quy định xử lý trường hợp người khiếu nại đã được mời đối thoại nhưng không tham gia mà không có lý do chính đáng. Theo đó, người giải quyết khiếu nại vẫn tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật (khoản 6 Điều 30). Đây là quy định cần thiết để tránh kéo dài thời gian giải quyết do sự chậm trễ hoặc thiếu hợp tác từ phía người khiếu nại, đồng thời vẫn bảo đảm tính khách quan, đúng pháp luật trong quá trình xem xét, giải quyết vụ việc.
Đối với Luật Tố cáo, Luật sửa đổi, bổ sung quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo trong một số trường hợp là Luật Tố cáo chưa điều chỉnh. Theo đó, Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền quản lý của minh mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 12 (khoản 7 Điều 12). Để đồng bộ với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tố cáo sửa đổi hoàn thiện, bổ sung thẩm quyền giải quyết tố cáo của các người đứng đầu các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân các cấp (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã); Viện kiểm sát nhân dân các cấp (Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực).
Để đảm bảo phù hợp, khả thi trong giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Luật đã bổ sung quy định “Căn cứ vào từng vụ việc cụ thể, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Tổng Thanh tra Chính phủ thụ lý tố cáo sau khi kiểm tra thấy đủ điều kiện thụ lý tố cáo; kết luận nội dung tố cáo và thông báo kết luận nội dung tố cáo sau khi Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến đối với báo cáo của Tổng Thanh tra Chính phủ về kết quả xác minh nội dung tố cáo” (điểm c khoản 8 Điều 13).
Luật Tố cáo sửa đổi cũng bổ sung, hoàn thiện quy định về việc rút tố cáo. Theo đó, người tố cáo có quyền rút toàn bộ hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo được thực hiện bằng đơn rút tố cáo hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút tố cáo của người tố cáo khi làm việc với người giải quyết tố cáo hoặc người xác minh nội dung tố cáo (khoản 1 Điều 33).
Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo đã bổ sung nhiều điểm mới quan trọng so với các Luật cũ, thể hiện rõ định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước. Những sửa đổi này không chỉ đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn mà còn góp phần xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
Thế Quang
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 3, Phòng Cảnh sát giao...
Truy nã đặc biệt đối tượng “ Tham ô tài sản” và “Rửa tiền”
Phòng Cảnh sát giao thông thông báo lịch sát hạch tháng...
Tổ địa bàn Cảnh sát giao thông Krông Búk, Trạm Cảnh sát...
Tuyển sinh giáo dục văn hóa bậc Tiểu học, Trung học cơ sở,...
![]() ![]() |